” Ô nhiễm môi trường lao động không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe con người mà còn làm giảm năng suất lao động, tăng chi phí trong quá trình sản xuất, nâng tỉ lệ tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Đây thực sự là một gánh nặng cho toàn xã hội” Phó giáo sư, tiến sĩ Lê Vân Trình, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Khoa học kỹ thuật – Bảo hộ lao động đã cảnh báo.

Đây cũng là một nhận định chung của các đại biểu tại hội thảo: “ Công tác bảo vệ môi trường, bảo đảm an toàn – vệ sinh lao động cho người lao động trong các khu công nghiệp và vai trò của tổ chức Công Đoàn” được tổ chức tại tỉnh Đồng Nai do Tổng Liên Đoàn Lao động Việt Nam tổ chức vào ngày 17/9

Theo số liệu thống kê chính thức, tần suất tai nạn lao động  trung bình trong cả nước trong 5 năm qua là 2,17. Còn theo số liệu điều tra của Viện Nghiên cứu Khoa học Kỹ thuật  – bảo hộ lao động tại 1.017 cơ sở sản xuất trong cả nước, tần suất tai nạn lao động trung bình là 18,75 (cứ 1.000 người lao động thì có gần 19 người bị tai nạn lao động). Kết quả trên chứng minh con số thực lớn hơn con số thống kê tới 8,7 lần. Không ít các chủ doanh nghiệp đưa ra lý do  sản xuất kinh doanh không ổn định, hiệu quả thấp nên thiếu kinh phí để cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động

Không chỉ xác định rõ nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, hội thảo còn đúc kết được kinh nghiệm thực tiễn của Công Đoàn các cấp trong quá trình giám sát thực hiện công tác bảo hộ lao động. Ông Huỳnh Tấn Kiệt, Chủ tịch Liên Đoàn Lao Động tỉnh Đồng Nai, cho biết ở những nơi có nguy cơ mắc bệnh cao, sau khi nhắc nhở khắc phục tình trạng ô nhiễm, tỉnh kiên quyết yêu cầu doanh nghiệp đưa người lao động đi khám sức khỏe; đồng thời hướng dẫn Công Đoàn cơ sở tham gia với chủ doanh nghiệp thực hiện đúng chế độ bồi dưỡng độc hại đối với người lao động.

 

Tiến sĩ Nguyễn Văn Quán, Phó Viện trưởng Phân viện Nghiên cứu KHKT-BHLĐ, đề nghị: Ngoài việc thành lập Hội đồng BHLĐ quốc gia, cần xây dựng một hệ thống tổ chức quản lý, thanh kiểm tra về BHLĐ thống nhất đồng bộ, có chất lượng và hiệu quả. Hiện tại, các văn bản dưới luật vẫn còn thiếu, một số văn bản đã bị lạc hậu, thiếu tính hệ thống. Do vậy, Nhà nước cần bổ sung, hoàn chỉnh các văn bản pháp luật, chế độ liên quan đến chính sách bảo hộ lao động, tạo điều kiện để chính sách này được “vận hành” một cách trơn tru.